Khu Căn cứ Tân Tỉnh Trung Lộc hội tụ “Thiên thời- Địa lợi- Nhân hòa”

Tháng 10 năm 1885, sơn phòng Dương Yên bị thất thủ, tháng 11 năm 1885, Pháp huy động lực lượng lớn kết hợp với quân của triều đình tấn công gây tổn thất cho lực lượng của Nghĩa hội Quảng Nam tại Đại Lộc, Quế Sơn, Hà Đông, Tiên Phước. Trước tình hình đó, Tiến sĩ Trần Văn Dư bàn giao lại trọng trách cho Phó bảng Nguyễn Duy Hiệu, tự ông ra Huế thương nghị với triều đình. Khi ghé vào tỉnh thành La Qua (Điện Bàn) ông bị địch bắt và xử bắn vào ngày 8 tháng 11 năm 1885. Phó bảng Nguyễn Duy Hiệu lên thay làm Hội chủ trong hoàn cảnh hết sức khó khăn, với nhãn quan của nhà quân sự, chính trị có tài, ông quyết định chuyển Nghĩa hội Quảng Nam về đứng chân và xây dựng căn cứ, tổ chức kháng chiến lâu dài tại thung lũng Trung Lộc (nay thuộc xã Quế Lộc, huyện Nông Sơn), gọi tên là căn cứ Tân Tỉnh, với ý nghĩa là tỉnh lỵ mới của nghĩa quân.

Chỉ tồn tại trong thời gian ngắn từ đầu năm 1886 đến năm 1887 nhưng căn cứ Tân Tỉnh được xây dựng khá quy củ, thực sự trở thành trung tâm chính trị - hành chính - quân sự và phát huy vai trò hết sức to lớn trong các hoạt động của Nghĩa hội Quảng Nam, đưa Quảng Nam trở thành một trong những địa phương tiêu biểu trong Phong trào Cần vương cuối thế kỷ XIX.

Trung Lộc được xem là vùng đất “thiên hiểm”, với nhiều ưu thế do tự nhiên mang lại, đứng chân tại căn cứ Tân Tỉnh, nghĩa quân tiến có thể đánh, lùi có thể thủ và rất thuận lợi trong việc bảo đảm nhu cầu lương thực, khí giới. Về thế thủ, thung lũng Trung Lộc dài khoảng 150km, rộng khoảng 2km, nơi hẹp nhất khoảng 1km. Ba phía đông, tây, nam của căn cứ đều là núi non bao bộc như những bức tường thành tự nhiên. Khi gặp sự biến, nghĩa quân có thể rút lui bằng đường sông Thu Bồn hoặc đường bộ ngược lên Phước Sơn, tiến sâu vào vùng núi hiểm trở phía tây của tỉnh. Quân Pháp và lính Nam triều muốn xâm nhập vùng đất “thiên hiểm” này phải vượt qua nhiều đèo, truông, gành thác, khe… với những địa danh như truông Phường Rạnh, truông Trạch, bãi Bà, thác Ông, bến Tý, bến Sé, đò Kẽm, gành Ngô, đèo Le, dốc Giảm Thọ… Đặc biệt về phía đông, địch muốn từ cửa Hàn, cửa Đại Chiêm (cửa Đại) tấn công lên căn cứ Tân Tỉnh phải vượt qua dãy núi Hòn Tàu trùng điệp, với những con đường đèo, dốc hiểm trở, nơi nghĩa quân có thể tổ chức mai phục hiệu quả. Về thế công, từ căn cứ Tân Tỉnh nghĩa quân có thể theo đường sông Thu Bồn tấn công xuống Đại Lộc, Vĩnh Điện, La Qua, Cửa Hàn, từ sông Hương An tiến ra cửa Đại. Có thể phát triển theo đường bộ dễ dàng phát triển tấn công xuống Hội An, Vĩnh Điện, Đà Nẵng, Thăng Bình, Tiên Phước, Hà Đông...

Thung lũng Trung Lộc với thổ nhưỡng đất sét trộn pha đất phù sa rất màu mỡ, từng được dân gian xem là một trong bốn vùng đất màu mỡ của tỉnh Quảng Nam: An Trạch, La Qua, Lai Nghi, Trung Lộc, ruộng đất đã được nhân dân khai phá từ rất sớm. Phía sau Tân Tỉnh còn có rẫy Cờ Vỹ cũng là khu vực phì nhiêu nghĩa quân có thể tự túc lương thực, thực phẩm phục vụ chiến đấu lâu dài. Trong khu vực căn cứ sẵn có những mỏ sắt ở Trung Lộc Đông, Trung Lộc Tây, An Xuân nhân dân đã từng khai phá để chế tạo dụng cụ, đây là điều kiện tốt để nghĩa quân khai thác rèn đúc khí giới, nông cụ sản xuất. Nhân dân khu vực Trung Lộc theo tiền nhân vào khai phá vùng đất mới từ thời nhà Hồ; trải qua nhiều biến cố của thiên tai, địch họa luôn đoàn kết, chung sức, đồng lòng vì nghĩa lớn, sẵn sàng ủng hộ chính nghĩa đánh đuổi lũ ngoại xâm và bon áp bức, bóc lột.