Thứ năm, 14/05/2015, 10:06:10

Chi tiết tin tức

Đất và Người Nông Sơn

TRUNG PHƯỚC – TỪ KÝ ỨC NHÌN VỀ TƯƠNG LAI

Ngày đăng: 10:45 | 20/08 Lượt xem: 221

Trước năm 1975, tôi chỉ biết đến Trung Phước qua những câu chuyện của má tôi kể về quê nhà Quảng Nam, về cái chợ quê nằm bên sông Thu Bồn. Những câu chuyện ấy đã gợi lên trong tâm hồn trẻ thơ non nớt của tôi sự háo hức được tìm về cái chợ hiền hòa, đông vui, bán nhiều loại cây trái, sản vật quê nhà; nơi có bến sông tấp nập với những chuyến đò ngang, đò dọc,…

Chiến tranh kết thúc, tôi theo gia đình trở về quê sau hơn mười năm tản cư vào sống ở Sài Gòn. Ngày đó, đường bộ từ Nam Phước qua Phường Rạnh lên Trung Phước chưa lưu thông được vì còn nhiều bom mìn. Giao thông đường thủy bằng ca nô từ Vĩnh Điện ngược sông Thu Bồn lên Trung Phước là tuyến giao thông chính. Cả nhà tôi dắt díu nhau lên ca nô ở Vĩnh Điện. Ca nô chạy ngược nước, mất gần cả ngày trời mới cập bến chợ Trung Phước. Sự háo hức trong tâm hồn trẻ thơ của tôi đã không còn khi thấy Trung Phước chỉ là cái chợ quê nghèo nàn với mấy cái hàng quán lèo tèo, vài túp lều tranh lụp xụp, xiêu vẹo và vỏn vẹn vài ngôi nhà xây bị đổ nát vì bom đạn, chung quanh còn chằng chịt dây thép gai. Ký ức đầu tiên của tôi về Trung Phước là sự đổ nát, điêu tàn của một vùng đất vừa trải qua khói lửa chiến tranh. Mãi đến bây giờ, hình ảnh đó vẫn thoáng hiện về trong tâm trí tôi mỗi khi nghe lại hai câu thơ đầy ám ảnh của Tường Linh: “Chợ chiều Trung Phước mờ sương khói. Dâu biển bao nhiêu lắm đổi dời!” 

Thời trước, do địa thế thuận lợi nên Trung Phước từng là nơi định cư của nhiều gia đình, dòng họ ở Đà Nẵng, Hội An, Điện Bàn, Đại Lộc, Duy Xuyên,… Họ từ miền xuôi lên khai hoang, lập ấp hoặc chạy giặc, tản cư lên Trung Phước khi Pháp xâm lược Đà Nẵng (1858) và khi Pháp trở lại xâm chiếm Việt Nam lần thứ hai (1946- 1954). Một số gia đình, dòng họ đã từng in đậm dấu ấn của họ tại vùng đất này. Những năm đầu thế kỷ XX, nhắc đến Trung Phước không thể không nhắc đến Bùi Biên - còn gọi là ông Cửu Thứ - người đã có công khẩn hoang tại Trung Phước và cũng là hào phú nổi tiếng của Quảng Nam thời đó. (Ông là thân sinh của bác sĩ và đồng thời là nhà sáng chế nổi tiếng: Bùi Kiến Tín). Thời trai trẻ, nhà thơ Bùi Giáng cũng từng đi chăn dê tại các vùng đồi quanh Trung Phước. 

Năm Giáp Thìn (1964), Trung Phước bị nhấn chìm trong trận lũ lụt kinh hoàng mà đến nay, nhiều người vẫn chưa quên và gọi trận lũ lụt đó là cơn đại hồng thủy, trận lụt lịch sử. Trung Phước là một trong những nơi chịu thiệt hại nặng nề nhất. Sau đó là những năm tháng chiến tranh dai dẳng mà khu vực Nông Sơn- Trung Phước là vùng chiến sự ác liệt. Nhiều người đã rời bỏ Trung Phước. Hình ảnh một vùng quê trù phú cùng tên tuổi những người từng một thời in dấu ấn ở Trung Phước như ông Cửu Thứ (Bùi Biên), nhà thơ Bùi Giáng,… dần lùi xa vào dĩ vãng, dần bị lãng quên. Những năm tháng ấy, ký ức về Trung Phước đọng lại trong tâm trí của nhiều người là những cảnh tang thương do lũ lụt và làng quê rền vang tiếng bom đạn, đắm chìm trong khói lửa chiến tranh.

Sau năm 1975, cũng như nhiều miền quê trên đất nước, Trung Phước dần hồi sinh. Với lợi thế nằm ở đầu mối giao thông, chợ Trung Phước nhanh chóng trở thành cái chợ lớn nhất của miền Tây Quế Sơn và khu vực Trung Phước cũng trở thành trung tâm của miền Tây Quế Sơn.

Năm học đầu tiên sau giải phóng, cả miền Tây Quế Sơn chỉ có một trường cấp 1- 2 đặt tại Trung Phước và toàn bộ học sinh cấp 2 (bây giờ gọi là trung học cơ sở) đều về học tại đây. Tôi là một trong những học sinh đầu tiên của ngôi trường này và ký ức của tôi về ngôi trường đầu tiên này được diễn tả gọn trong một từ: lạ. Lạ bởi vì không phải riêng tôi mà hầu như bạn học của tôi đều không biết văn phòng nhà trường ở đâu (nói như ngôn ngữ bây giờ là trường không có cơ sở vật chất). Vì vậy, thêm một điều lạ nữa là phòng học luôn thay đổi liên tục: lúc thì học ở một phòng tạm, thấp lè tè ở gần bến đò (nghe nói là Trạm Bưu điện), lúc thì học trong một ngôi nhà trống hơ trống hoác và lỗ chỗ vết đạn (nghe nói là nhà ông Ba Hội). Bàn ghế lại càng lạ hơn vì toàn bằng những tấm ri sắt - loại vật liệu được quân Mỹ dùng để lót nền tại các sân bay dã chiến. Những tấm ri sắt này được kê trên những cục táp lô (loại vật dụng xây dựng được đúc bằng cát, sỏi, xi măng). Kê cao thành bàn, kê thấp làm ghế. Giáo viên cũng lạ bởi vài tuần lại có một thầy cô mới (thay cho những người không chịu được kham khổ đã bỏ về). Chính vì nhiều cái lạ như vậy nên sự học ngày đó càng lạ lùng hơn: học trò không có sách giáo khoa; thầy giảng cho trò nghe, thầy đọc cho trò chép rồi trò học bài, làm bài tập, trả bài để thầy ghi điểm. Học như vậy mà nhiều người trong lứa học trò của tôi ngày ấy có nhiều người đã thành đạt, thành danh.

Khi đoạn đường từ Duy Xuyên lên Trung Phước được dọn sạch bom mìn, thông tuyến đường bộ thì ngoài tuyến đường thủy, Trung Phước là đầu mối đường bộ lên thượng nguồn sông Thu Bồn do có tuyến xe khách Đà Nẵng- Trung Phước. Mỗi ngày một chuyến lên xuống. Gọi là xe khách nhưng thực chất là xe Đốt (Dodge)- một loại xe vận tải quân sự của Mỹ được đóng thêm mui, thêm các hàng ghế để chở khách. Đến những năm 80 của thế kỷ trước, do khan hiếm xăng, dầu nên loại xe này được cải tiến (hay cải lùi?) để chạy bằng than với thùng than to tướng, nóng hừng hực ở đuôi xe. Ký ức về Trung Phước nghèo khó thời bao cấp vẫn hiển hiện trong tôi là hình ảnh đám đông chen lấn, la ó ở phòng vé Trung Phước để cố mua cho được một cái vé xe. Rồi cũng chừng đó con người- có vé và không có vé- lại chen chúc, bu bám và ngồi cả trên trần xe, chen lấn với cả heo, gà, vịt,.. để xuôi về Đà Nẵng, mặc kệ cho chiếc xe chở quá tải lặc lè, lắc lư, nặng nhọc bò qua con đèo Phường Rạnh gập ghềnh ổ trâu, đá tảng, đá hộc,...

Đã có một thời, Trung Phước được nhiều người gọi là thủ phủ trầm của Quảng Nam khi mà nhà nhà, người người đổ xô lên núi tìm trầm. Dân địu- biệt ngữ dùng để chỉ những người đi tìm trầm- từ tứ xứ đổ về Trung Phước để đi tìm trầm. Họ mua sắm các loại đồ dùng, thực phẩm đủ dùng cho một chuyến đi tìm trầm rồi theo ca nô ngược lên Trà Linh, rồi tiếp tục ngược nguồn đi tiếp vào những cánh rừng sâu để tìm trầm. Xong một đợt đi tìm trầm, dân địu lại xuôi về Trung Phước để bán hàng. Bán hàng xong, dù được nhiều hay ít dân địu cũng rủ nhau tấp vào các quán ăn nhậu, tiêu pha để bù đắp lại những thiếu thốn, vất vả, cực nhọc của bao ngày trên rừng. 

Nhờ vậy, nhiều người dân Trung Phước làm ăn khấm khá nhờ bán hàng tạp hóa, bán hàng ăn cho dân địu. Một số người phất lên nhờ buôn trầm. Nhịp sống Trung Phước thời đó sôi động, nhộn nhịp theo từng chuyến đi trầm, những lần trúng trầm của dân địu.

Sau khi trầm hương trên núi rừng Quảng Nam cạn kiệt thì Trung Phước trở lại nhịp sống bình thường một thời gian rồi sôi động với phong trào làm trầm cảnh- còn gọi là hàng cảnh- xuất đi Trung Quốc. Một số phương tiện thông tin đại chúng đã đưa tin, bài và gọi Trung Phước là làng nghề trầm hương. Nhiều người đã trúng đậm- nói theo ngôn ngữ của những người làm hàng cảnh- và giàu lên rất nhanh. Nhiều nhà cao tầng mọc lên, nhiều ô tô tiền tỷ chạy vi vu trên đường đã làm thay đổi hẵn diện mạo Trung Phước.

Nhưng tất cả những thay đổi đó hầu như chỉ mang tính tự phát và Trung Phước vẫn chỉ như một cô gái đẹp nhưng phải khoác lên người bộ trang phục cũ kỹ lại vừa chật, vừa quê mùa cục mịch mà không có cách gì có thể cởi thoát ra được. Rồi lại bị bó buộc quanh quẩn trong một không gian chật hẹp chạy dọc theo hai bên trục đường ĐT610 đoạn từ ngã ba Cây Muồng lên đến dốc Bà Nguyệt. Thời đó, nhiều người nói vui: đi bộ chưa mỏi chân là đã hết…Trung Phước bởi một bên là sông Thu Bồn, còn rẽ ngang vào hơi sâu một chút là gặp những dãy đồi hoang vu, lúp xúp, trập trùng nối nhau trải dài lên đến chân núi Cà Tang.

Không những thế, Trung Phước còn có nguy cơ bị thời cuộc bỏ qua bởi khi đó ĐT610 là con đường cụt, lại quá xấu sau nhiều năm không được tu bổ, sửa chữa nên xe khách không còn chạy được, phải bỏ tuyến. Đường thủy không còn là tuyến giao thông chính. Các phương tiện giao thông đường bộ lên miền Tây Quế Sơn đều đi theo tuyến ĐT611 qua đèo Le. Giao thông chưa phát triển nên Trung Phước dường như bị khép kín, vây bọc giữa bốn bề núi non. Do khó khăn về giao thông nên miền Tây Quế Sơn ngày đó ít người biết, ít người đến.  

Nhiều năm sau đổi mới, diện mạo đất nước đã có nhiều thay đổi chuyển biến nhưng Trung Phước vẫn vậy. Vẫn im lìm như ngủ quên, lại càng giống với thân phận cô gái bị cấm cung trong ngôi nhà nhỏ, nhìn thế giới bên ngoài qua khung cửa hẹp mà lòng trào dâng nỗi khát khao có điều kỳ diệu, phép thần tiên nào đó để mở toang cánh cửa, để bước ra và hòa nhập với thế giới bên ngoài.

Rồi cái điều kỳ diệu đã đến với Trung Phước, nhưng không phải nhờ vào một phép thần tiên nào mà từ Nghị định số: 42/2008/NĐ-CP, ngày 08-4-2008 của Chính phủ điều chỉnh địa giới hành chính để thành lập huyện mới Nông Sơn gồm các xã miền Tây Quế Sơn và ngày 09/6/2008 là một ngày có ý nghĩa lịch sử trọng đại đối với con người và vùng đất bên kia đèo Le. Thời khắc đó đã chính thức đặt dấu chấm hết cho những ký ức buồn về vùng đất nằm dọc đôi bờ thượng nguồn Thu Bồn và mở ra con đường đi tới tương lai xán lạn của vùng đất này. Và Trung Phước- với vị trí trung tâm và nhiều lợi thế khác- được lựa chọn và trở thành trung tâm hành chính của huyện mới Nông Sơn .

Chỉ trong mấy năm, cả vùng đồi hoang vu bên sông Thu Bồn đã được đánh thức và những thiết chế của một trung tâm hành chính của huyện mới Nông Sơn đã dần dần định hình. Khu nhà việc của các cơ quan hành chính, trường học, bệnh viện,… được xây dựng khang trang, hiện đại. Cầu vượt, trục đường chính với nhiều làn xe được thảm nhựa rộng thênh thang có dãi phân cách trồng nhiều hoa, cây cảnh, điện đường,… đã tạo nên nét văn minh đô thị cho Trung Phước.

Nông Sơn- diện mạo mới
Nông Sơn- diện mạo mới

Trung Phước bây giờ không còn giới hạn trong phạm vi chật hẹp như thời trước bởi cả vùng đồi hoang vu đã được san ủi, tạo mặt bằng cho các công trình công cộng, khu dân cư,... Hệ thống đường bộ đã, đang và sẽ được đầu tư xây dựng trong tương lai sẽ kết nối liên hoàn Nông Sơn - Trung Phước với các huyện miền núi và đồng bằng của tỉnh Quảng Nam qua các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ. Trung Phước không còn ở trong thế bị cô lập, cách trở về giao thông; không còn nỗi ám ảnh bị thời cuộc bỏ quên mà sẽ là đô thị nằm trên trục giao thông chính qua khu vực Tây Bắc của Quảng Nam.

Cư dân Trung Phước bây giờ đã dần quên những địa danh: dốc Bà Nguyệt, xóm Bàu, hóc Cỏ Bông, Đá Đen,.. và cũng dần làm quen với nếp sống văn minh đô thị. Sáng sớm, trong tiếng nhạc hiệu rộn ràng của Đài Truyền thanh- Truyền hình huyện, nhiều người thong dong đi bộ, tập thể dục trên những trục đường chính. Mỗi tối, người dân thong thả dạo chơi trên những con đường rực sáng ánh đèn cao áp. Nỗi lo về đường sá, xe cộ đã không còn hiện hữu vì khi cần di chuyển thì đã có taxi Nông Sơn đến đón tận chỗ; đi Đà Nẵng, Tam Kỳ thì đã có nhiều chuyến xe chạy trong ngày; đi xa thì đã có xe của các nhà xe Anh Thư, Hùng Mai,…

Khi huyện Nông Sơn sắp bước vào tuổi lên mười thì: Đường ĐT610 đoạn từ Mỹ Sơn lên Trung Phước- nối hai huyện Duy Xuyên và Nông Sơn- được khánh thành và đưa vào sử dụng; Bộ Giao thông vận tải đã có quyết định chuyển toàn bộ tuyến ĐT610 và ĐH2.NS thành một phần của tuyến Quốc lộ 14H nối từ cảng Cửa Đại đến đường Đông Trường Sơn. Và điều tốt đẹp nhất, được nhiều người mong đợi bao lâu nay đã đến: Trung Phước đã được công nhận là đô thị loại V trực thuộc huyện Nông Sơn,... Tất cả như khoác lên mình chiếc áo mới, hồi sinh và phát triển, Trung Phước sẽ có được nhiều lợi thế, tiềm năng để nhanh chóng thu hẹp khoảng cách với các địa phương trong tỉnh.

Bởi, nếu so sánh và nhìn từ quá khứ thấm đẫm những ký ức buồn sẽ thấy được trong xu thế hội nhập và phát triển của đất nước, huyện Nông Sơn đã và đang trên đà phát triển. Là đô thị loại V trực thuộc huyện, là cái lõi, là hạt nhân của huyện Nông Sơn, với vai trò là đầu tàu của sự phát triển và hội nhập của huyện Nông Sơn nên đô thị Trung Phước chắc chắn sẽ có sự phát triển nhanh hơn, mạnh mẽ hơn, toàn diện hơn.

Mặt khác, dù có thay đổi như thế nào về mặt tổ chức, hành chính đi nữa thì những thiết chế, cơ sở hạ tầng của một khu trung tâm hành chính cấp huyện đã và đang được tiếp tục đầu tư xây dựng hoàn chỉnh, khang trang và hiện đại vẫn là nền tảng, như là một sự đảm bảo vững chắc cho sự phát triển ổn định, bền vững của Trung Phước trong tương lai.

Và chính vì thế, từ góc nhìn của ký ức, hướng tầm nhìn về tương lai, ai cũng hy vọng sẽ nhìn thấy Trung Phước ở một tầm cao mới, vị thế mới.


Tác giả: Hà Văn

Nguồn tin: Trích từ tập san: "Nông Sơn - tự hào vững bước đi lên"


[Trở về]

Các tin mới hơn:

Các tin cũ hơn:

ĐĂNG NHẬP

Tài khoản  
 
Tên Video
No records to display.








Bản quyền Ủy ban nhân dân huyện Nông Sơn
Giấy phép số: 07/GP-TTĐT cấp ngày 29/9/2017
Địa chỉ: Thôn Trung Hạ, xã Quế Trung, huyện Nông Sơn, Tỉnh Quảng Nam.
Điện thoại: 0235 3650 888 - Fax: 02353 650 557
Phát triển bởi Trung Tâm Công Nghệ Thông Tin & Truyền Thông Quảng Nam (QTI)